
Vườn điều canh tác theo truyền thống ở Đồng Nai
Hữu cơ giúp giảm chi phí, cải thiện đất, nhưng khó xử lý sâu bệnh
Trong bối cảnh giá phân bón vô cơ tăng mạnh, trồng điều hữu cơ vừa phù hợp với xu hướng của người tiêu dùng vừa bảo vệ môi trường.
Tại Tổ hợp sản xuất Đội 3, ấp Đồng Tiến 3, xã Đồng Tâm, tỉnh Đồng Nai, có khoảng 115 hộ dân canh tác gần 300 ha điều. Trong số này, khoảng 2/3 số hộ đã chuyển sản xuất theo hướng hữu cơ, phần còn lại vẫn duy trì phương thức truyền thống.

Bà Vưu Thị Mai, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất Đội 3
Bà Vưu Thị Mai, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất Đội 3 – một trong những hộ trồng điều lâu năm tại địa phương cho biết, việc lựa chọn sản xuất hữu cơ xuất phát từ thực tế canh tác và khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong vườn.
“Lá điều rụng, cành sau khi tỉa đều được băm nhỏ, ủ với chế phẩm vi sinh Trichoderma để làm phân hữu cơ bón lại cho cây. Ngoài ra, gia đình còn sử dụng phân gà nhập từ Nhật Bản và một số loại phân hữu cơ từ châu Âu để cải tạo đất”, bà Mai nói.
Việc sử dụng phân hữu cơ giúp đất tơi xốp hơn, tăng độ màu mỡ và duy trì hệ vi sinh vật có lợi trong đất. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với những vườn điều đã canh tác hàng chục năm. So với phương thức sử dụng hoàn toàn phân vô cơ, mô hình canh tác hữu cơ không làm tăng chi phí sản xuất. Thậm chí, trong nhiều trường hợp còn tiết kiệm hơn nhờ tận dụng phụ phẩm ngay tại vườn.
Theo bà Mai, chi phí chăm sóc vườn điều theo hướng hữu cơ hiện khoảng 15 triệu đồng/ha. Trong khi đó, nếu sử dụng phân vô cơ, chi phí thường dao động 18-20 triệu đồng/ha. Phần chênh lệch này chủ yếu đến từ việc các hộ trồng điều hữu cơ tận dụng cỏ dại, lá rụng và cành tỉa để ủ phân thay vì phải mua nhiều phân hóa học.
Cỏ trong vườn được phát thủ công rồi tận dụng làm phân bón, nên trong vườn điều vẫn cần duy trì một lượng cỏ nhất định, miễn không quá rậm rạp, để giữ độ ẩm và tạo môi trường cho vi sinh vật phát triển. “Đất khỏe thì cây khỏe. Nếu làm sạch cỏ hoàn toàn, đất dễ bị chai, nóng và mất dần sinh vật có lợi”, bà Mai nói.
Bên cạnh hiệu quả về môi trường, mô hình hữu cơ còn giúp giảm áp lực chi phí trong bối cảnh giá phân bón và vật tư nông nghiệp liên tục biến động. Dù vậy, canh tác hữu cơ không phải là giải pháp hoàn toàn thay thế phương thức truyền thống, bởi mỗi hình thức đều có ưu và nhược điểm riêng. Nếu chỉ sản xuất hữu cơ hoàn toàn, môi trường vườn cây sẽ xanh, sạch hơn, nhưng khi xuất hiện sâu bệnh thì hiệu quả xử lý thường không cao.
“Dịch bệnh trên cây điều lây lan rất nhanh, đặc biệt theo hướng gió. Nếu không xử lý kịp thời, sâu bệnh từ vườn này có thể lan sang cả khu vực. Việc sử dụng thuốc hóa học trong một số thời điểm là cần thiết để chặn dịch ngay từ đầu, tránh thiệt hại trên diện rộng. Vì vậy, phần lớn các hộ tại địa phương hiện lựa chọn mô hình “hữu cơ kết hợp”, tức ưu tiên phân bón hữu cơ nhưng vẫn sử dụng thuốc hóa học khi cần thiết”, bà Mai cho biết.
Làm hữu cơ nhưng giá bán không cao hơn
Rào cản lớn nhất đối với sản xuất điều hữu cơ hiện nay không nằm ở kỹ thuật mà ở đầu ra.

Bà Vưu Thị Mai bên vườn điều gia đình
Trước đây, Tổ hợp sản xuất 3 từng liên kết với một doanh nghiệp để phát triển vùng nguyên liệu điều sạch theo tiêu chuẩn hữu cơ phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, sau một thời gian, doanh nghiệp đã dừng hợp tác do đầu ra không ổn định.
Theo bà Mai, sản phẩm hữu cơ chỉ thực sự hấp dẫn người trồng khi được mua với mức giá cao hơn đáng kể. Thế nhưng trên thực tế, điều sản xuất theo hướng hữu cơ hiện vẫn bán gần như cùng giá với điều thông thường. Hiện giá điều thô tại vườn khoảng 36.000 đồng/kg. Do chưa có chứng nhận hữu cơ chính thức nên sản phẩm của các hộ dân chưa được thị trường trả thêm giá trị.
“Làm hữu cơ mất nhiều công hơn, thời gian dài hơn nhưng giá bán không khác biệt thì nông dân rất khó duy trì”, bà Mai nói.
Theo đánh giá của các hộ dân, trong khi sản xuất theo phương thức thông thường dễ bán và tiêu thụ nhanh, mô hình hữu cơ lại đòi hỏi nhiều thời gian, công chăm sóc và quy trình nghiêm ngặt hơn. Nếu có thêm chính sách hỗ trợ chứng nhận hữu cơ, xây dựng đầu ra ổn định và liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp, mô hình trồng điều theo hướng hữu cơ sẽ có cơ hội phát triển mạnh hơn.
Đây cũng là lý do khiến nhiều hộ dù có xu hướng sản xuất sạch nhưng vẫn chưa mạnh dạn chuyển đổi toàn bộ diện tích.
Ngoài bài toán đầu ra, năng suất cũng là yếu tố khiến nông dân cân nhắc khi chuyển sang sản xuất hữu cơ, vì năng suất điều trồng theo hướng hữu cơ thường thấp hơn so với phương thức sử dụng phân vô cơ. Tuy nhiên, mức chênh lệch cụ thể phụ thuộc rất lớn vào thổ nhưỡng, tuổi vườn và điều kiện thời tiết từng năm.
Gia đình bà Mai hiện có hai khu vườn với đặc điểm đất khác nhau. Tại khu đất đỏ bazan, năng suất đạt khoảng 1,5 tấn/ha. Trong khi đó, khu đất đá chỉ đạt từ 7 tạ đến 1 tấn/ha.
Vườn điều của gia đình trồng từ năm 1987, đến nay đã gần 40 năm tuổi. Khoảng 20% diện tích của gia đình bà Mai đã được chuyển sang giống mới. Riêng trên tổng diện tích 300 ha của Tổ hợp sản xuất, diện tích điều ghép hiện đạt khoảng 60 ha.
Trong bối cảnh nhiều vườn điều đã già cỗi, các hộ dân tại Tổ hợp sản xuất Đội 3 đang tiếp tục tính toán phương án thay thế giống mới. Thay vì chặt bỏ toàn bộ diện tích cùng lúc, phần lớn hộ dân lựa chọn cách làm “cuốn chiếu”, thay dần từng phần diện tích qua từng năm để vẫn duy trì được sản lượng và có nguồn thu.
Hiện nay, Tổ hợp tác sản xuất Đội 3 vẫn duy trì liên kết sản xuất giữa 115 hộ dân trên diện tích gần 300 ha. Tuy nhiên, để mô hình hữu cơ thực sự trở thành hướng đi bền vững, người trồng điều vẫn cần một “điểm tựa” lớn nhất: thị trường tiêu thụ và mức giá đủ bù đắp công sức chuyển đổi.

