Tin mới Tin mới

Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Doanh nghiệp Việt đã sẵn sàng cho vai trò làm chủ tại các dự án metro

Nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam đảm nhận vai trò làm chủ trong xây dựng các dự án Metro đang ngày càng rõ nét.

Doanh nghiệp Việt đã sẵn sàng cho vai trò làm chủ tại các dự án metro

FECON tham gia dự án Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên năm 2017. Ảnh: FECON cung cấp

Sau hơn một thập kỷ triển khai những tuyến đường sắt đô thị đầu tiên, Việt Nam đang bước sang một giai đoạn mới. Từ chỗ phần lớn phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị và chuyên gia quốc tế, đội ngũ kỹ sư, nhà thầu trong nước đã từng bước tiếp nhận công nghệ, tích lũy kinh nghiệm và trực tiếp đảm nhiệm nhiều hạng mục kỹ thuật phức tạp. Cùng với sự hình thành của hệ sinh thái tư vấn, nhà thầu, nhà cung cấp và nguồn lực tài chính trong nước, nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam đảm nhận vai trò làm chủ trong xây dựng các dự án Metro đang ngày càng rõ nét.

Công nghệ có thể chuyển giao, kinh nghiệm cần thời gian tích lũy

Hơn một thập kỷ phát triển, đường sắt đô thị Việt Nam gắn với các dự án Cát Linh – Hà Đông, Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên và Metro Line 3 Nhổn – Ga Hà Nội. Hai tuyến đầu đã khai thác; đoạn trên cao Nhổn – Ga Hà Nội đã vận hành thương mại, còn 4 km hầm đã hoàn thành khoan TBM vào tháng 4/2026.

Thập kỷ tới sẽ là giai đoạn bùng nổ về quy mô xây dựng Metro. Theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô 2026 và dự thảo quy hoạch tầm nhìn 100 năm TP Hồ Chí Minh, mỗi thành phố Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đều định hướng mạng lưới đường sắt đô thị dài khoảng 1000 km, riêng giai đoạn 2026–2035 Hà Nội dự kiến đầu tư khoảng 500 km và TP.HCM đặt mục tiêu 355 km.

Khối lượng khổng lồ này đòi hỏi một lực lượng lớn doanh nghiệp tư vấn, thiết kế, xây dựng hạ tầng và doanh nghiệp cơ khí trong nước đủ năng lực tham gia — khiến việc chuyển hóa kinh nghiệm từ các dự án đầu tiên thành năng lực ngành trở nên cấp thiết.

Giá trị để lại không chỉ là số km đường sắt, mà là năng lực tích lũy qua từng công trình của các nhà thầu & chuỗi cung ứng nội địa. Từ chỗ công nghệ TBM, thi công ga ngầm, kiểm soát lún sụt còn xa lạ 10–15 năm trước, nay kỹ sư, công nhân Việt Nam đã trực tiếp tham gia từ lắp đặt, vận hành đến xử lý nền móng và thi công kết cấu ngầm. Công nghệ có thể mua, thiết bị có thể nhập, nhưng làm chủ vận hành và xử lý tình huống thực tế cần thời gian tích lũy qua quá trình thực chiến.

FECON là ví dụ tiêu biểu. Tháng 5/2017, tại Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên, FECON là nhà thầu Việt Nam đầu tiên trực tiếp vận hành TBM dưới hướng dẫn chuyên gia Nhật Bản. Đội ngũ này sau đó trở thành nòng cốt tại Metro Line 3 Nhổn – Ga Hà Nội, với phạm vi công việc mở rộng: thi công tường vây, xử lý nền bằng khoan phụt vữa áp lực cao, vận hành TBM, đào hầm, lắp vỏ hầm và cung ứng vật tư. Kinh nghiệm triển khai các dự án với vai trò là thầu phụ cho các nhà thầu nước ngoài đã chuyển hóa thành năng lực thực tế của các nhà thầu Việt Nam trong điều kiện tự nhiên (địa chất, thủy văn) và điều kiện xã hội của đô thị Việt Nam. Năng lực được hình thành không chỉ bằng tiếp nhận công nghệ, mà quan trọng hơn là năng lực quản trị dự án, quản trị rủi ro đã được tích lũy qua từng dự án.

Doanh nghiệp thực chiến tạo lực dẫn dắt cho hệ sinh thái

Sự trưởng thành của các nhà thầu qua những dự án đầu tiên cũng tạo tiền đề cho một hệ sinh thái trong nước của ngành đường sắt đang dần hình thành, gồm các đơn vị tư vấn thiết kế, nhà thầu xây dựng, doanh nghiệp cơ khí – chế tạo, nhà cung cấp vật liệu, thiết bị và các tổ chức tài chính.

Trong hệ sinh thái đó, những doanh nghiệp đã tích lũy được kinh nghiệm thực tế có thể trở thành hạt nhân để hình thành các Tổ hợp mạnh đủ năng lực quản lý từ thiết kế, mua sắm cho đến xây dựng (EPC) trên cơ sở huy động tối đa nguồn lực trong nước và quốc tế. FECON không phải trường hợp đơn lẻ. Qua những dự án metro đầu tiên, nhiều doanh nghiệp hạ tầng Việt Nam đã tham gia ở các mắt xích khác nhau.

Tổng công ty Thăng Long từng tham gia tuyến Cát Linh – Hà Đông. Tại Metro số 1 TP.HCM, Tổng công ty Xây dựng số 1 – CTCP (CC1) thi công hai ga ngầm Nhà hát Thành phố và Ba Son. Tại Metro Line 3 Hà Nội, VNCN E&C tham gia xây dựng hầm, các ga ngầm và giếng thoát hiểm. Ở khâu sản xuất, AMACCAO sản xuất tấm vỏ hầm segment cho Metro Hà Nội; Beton 6 sản xuất segment cho Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên trên cơ sở công nghệ được chuyển giao từ Nhật Bản.

Dự án Metro Line 3 Hà Nội hoàn thiện công tác khoan hầm vào tháng 4/2026
Dự án Metro Line 3 Hà Nội hoàn thiện công tác khoan hầm vào tháng 4.2026. Ảnh: FECON cung cấp

Không lệ thuộc vào các nhà thầu quốc tế mà các doanh nghiệp trong nước đang quyết tâm nâng cao vị thế làm chủ cuộc chơi, khi cần sẽ huy động chuyên gia quốc tế bằng các hợp đồng ngắn hạn theo dự án.

Tại FECON, quá trình chuẩn bị nguồn lực cho các dự án Metro đã được triển khai từ năm 2012 theo hướng xây dựng một hệ sinh thái chuyên môn hóa cao. Đến nay, doanh nghiệp đã hình thành năng lực thực hiện phần lớn các công việc thuộc hợp phần C (xây dựng) trong mô hình EPC. Trong đó, Tập đoàn FECON giữ vai trò kiểm soát kỹ thuật và quản lý tổng thể dự án; Công ty Công trình ngầm FECON Raito tập trung vào xử lý nền và thi công đường ngầm; Công ty Cọc và Xây dựng FECON, cùng công ty FECON South đảm nhiệm các hạng mục tường vây, nền móng và nhà ga; Công ty xây dựng hạ tầng FECON đảm nhiệm năng lực thi công cầu cạn và sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn; Viện Công trình ngầm FECON phụ trách khảo sát, quan trắc và kiểm soát rủi ro. Bên cạnh đó, Công ty Thiết bị FECON đảm nhiệm đầu tư, quản lý và vận hành hệ thống máy móc, thiết bị chuyên dùng TBM, góp phần giúp FECON chủ động về nguồn lực và tổ chức thi công tại các dự án Metro. Cấu trúc này giúp FECON tích hợp nhiều năng lực trong cùng một hệ thống, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn lực bên ngoài.

Gần đây FECON đã cùng Ban đường sắt đô thị Hà Nội được Sở KHCN Hà Nội giao thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học xử lý tái chế bùn thải trong công tác khoan TBM để giải quyết triệt để vấn đề môi trường các dự án khoan ngầm trong thành phố, dự kiến đề tài sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2027 để tiến hành thương mại hóa từ năm 2028. Cùng thời điểm quý 2/2026, FECON cùng một đối tác Trung Quốc thành lập công ty liên doanh chuyên về các dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa xung quanh thiết bị khoan hầm TBM – sẵn sàng hỗ trợ các nhà thầu thi công TBM tại Việt Nam trong thời gian tới.

Sau khi hoàn thành 2 dự án Metro Line 1 HCM và Metro Line 3 Hà Nội, doanh nghiệp này tiếp tục được tin tưởng lựa chọn tại dự án Metro số 5 Văn Cao – Hòa Lạc với hợp đồng đầu tiên trị giá khoảng 3.000 tỷ đồng cho thi công đoạn ngầm được ký vào quý I/2026, phạm vi công việc bao trùm tất cả công tác ngầm bao gồm đào hầm bằng TBM, xử lý nền móng, cung cấp và lắp đặt vỏ hầm, chống thấm cùng công tác quan trắc kiểm soát rủi ro và điều hành công tác đào TBM.

Đội ngũ kỹ sư Việt Nam đã tích luỹ được năng lực thực chiến qua các dự án Metro tại Hà Nội và TP.HCM
Đội ngũ kỹ sư Việt Nam đã tích luỹ được năng lực thực chiến qua các dự án Metro tại Hà Nội và TP.HCM. Ảnh: FECON cung cấp

Nhìn từ ba dự án có thể thấy một lộ trình tương đối rõ: Metro số 1 TP.HCM là nơi FECON tiếp nhận công nghệ ngầm; Metro Line 3 Hà Nội là nơi củng cố năng lực trực tiếp triển khai; từ Metro số 5 Văn Cao – Hòa Lạc trở đi cơ hội đảm nhận phạm vi công việc lớn hơn và doanh nghiệp khẳng định hoàn toàn có thể làm chủ phần C trong mô hình EPC của các dự án Metro. Đây là bước chuyển từ việc thực hiện những hạng mục riêng lẻ sang đảm nhận các gói công việc có mức độ tích hợp cao, cần năng lực cao hơn trong quản trị tổng thể và quản lý giao diện.Năng lực của FECON trong lĩnh vực này được ghi nhận khi sản phẩm Xây dựng Hạ tầng – Ngầm lần thứ ba liên tiếp được công nhận Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026, sau các kỳ 2022 và 2024. Doanh nghiệp cũng nhiều năm nằm trong nhóm các nhà thầu xây dựng hạ tầng – công nghiệp uy tín do Vietnam Report công bố.

Những ghi nhận đó, cùng kinh nghiệm đã được kiểm chứng trên công trường, tạo nên nền tảng năng lực và lợi thế cạnh tranh của FECON trong lĩnh vực hạ tầng – ngầm.

Từ năng lực doanh nghiệp đến năng lực của ngành

Một tuyến đường sắt hiện đại không thể được xây dựng bởi một doanh nghiệp đơn lẻ. Đằng sau mỗi dự án là cả một hệ sinh thái chuỗi cung ứng từ thiết kế lập dự án, bảo vệ tổng mức đầu tư và bố trí tài chính, giải phòng mặt bằng đến triển khai xây dựng, sản xuất chế tạo các cấu kiện bê tông, kết cấu thép, các loại thiết bị & đầu máy toa xe của dự án, đến hệ thống cơ điện và hệ thống tín hiệu điều khiển, hệ thống vận hành khai thác đoàn tàu sau khi hoàn thành… Vì vậy, năng lực của ngành chỉ có thể được hình thành khi những doanh nghiệp có năng lực chuyên sâu trong từng mảng có thể kết nối với nhau và cùng tham gia trực tiếp chuỗi giá trị của mỗi dự án.

Điều đó không có nghĩa Việt Nam đã có thể ngay lập tức tự chủ toàn bộ việc xây dựng hệ thống đường sắt. Những lĩnh vực đặc thù như tín hiệu, điều khiển, đầu máy toa xe hay một số thiết bị chuyên dụng vẫn cần tiếp tục hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ và nội địa hóa theo lộ trình. Từ tháng 7 năm 2025, FECON và một tập đoàn lớn của Trung Quốc đã ký hợp tác chiến lược trong lĩnh vực xây dựng đường sắt và xây dựng năng lượng tại thị trường Việt Nam. Đối tác đến từ Trung Quốc này có thể trở thành mảnh ghép quan trọng đứng cùng các doanh nghiệp Việt Nam để phủ kín các năng lực tài chính, tư vấn thiết kế, công nghệ điều khiển, đầu máy toa xe và hỗ trợ quản lý tổng thể trong suốt quá trình chuẩn bị đầu tư, thi công xây dựng và chuyển giao vận hành sau khi hoàn thành xây dựng.

Rất nhiều doanh nghiệp hạ tầng khác cũng đang sẵn sàng nguồn lực cho mảng dự án mới này, tuy nhiên để hiện thực hóa được mục tiêu doanh nghiệp Việt Nam làm chủ xây dựng Metro, đòi hỏi nhà nước – chính phủ và chính quyền các thành phố cần có chủ trương và cơ chế lựa chọn nhà thầu phù hợp, chính sách chuyển giao công nghệ và nội địa hóa rõ ràng. Đồng thời mạnh dạn giao cho doanh nghiệp trong nước đóng vai trò dẫn dắt, cộng lực với các đơn vị trong và ngoài nước để tổ chức triển khai dự án. Doanh nghiệp trong nước chịu trách nhiệm đứng đầu các Tổ hợp nhà thầu tại các dự án đường sắt đô thị và đường sắt Quốc gia, các doanh nghiệp nước ngoài có thể là thành viên liên danh hoặc nhà thầu phụ, có như vậy, doanh nghiệp trong nước mới có động lực mạnh mẽ để đầu tư phát triển và trường tồn.

Tin khác