Xúc Tiến Doanh Nghiệp | Trang tin điện tử Xúc Tiến Doanh Nghiệp
Trang thông tin điện tử tổng hợp

Tin mới Tin mới

Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Cơ hội từ VIFTA: Thủy sản Việt sang Israel tăng mạnh

Nhờ ưu đãi thuế quan từ VIFTA và thủ tục thuận lợi, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Israel phục hồi mạnh mẽ trong năm 2026, mở ra dư địa lớn cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang trở thành xu hướng được doanh nghiệp cá ngừ Việt Nam quan tâm, trong đó Israel là một trong những thị trường tiềm năng để mở rộng cơ hội giao thương và nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Kim ngạch thủy sản sang thị trường này tăng 30,7% trong 6 tháng đầu năm 2026. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) tiếp tục mở thêm dư địa cho doanh nghiệp.

Xuất khẩu thủy sản sang Israel giữ đà tăng trưởng

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ước đạt 9,103 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, cá ngừ đạt 716 triệu USD, chỉ tăng 3,5%, thấp hơn nhiều so với mức tăng chung của toàn ngành. Trước đó, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạt khoảng 924 triệu USD, giảm 7% so với năm 2024.

Israel là một trong những thị trường tiềm năng để mở rộng cơ hội giao thương và nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy sản. Ảnh minh họa: Cấn Dũng

Israel là một trong những thị trường tiềm năng để mở rộng cơ hội giao thương và nâng cao hiệu quả xuất khẩu thủy sản. Ảnh minh họa: Cấn Dũng

Tại các thị trường xuất khẩu chủ lực, cá ngừ Việt Nam đang chịu tác động từ những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ môi trường. Các quy định tại Mỹ và EU đặt ra yêu cầu doanh nghiệp tăng cường kiểm soát chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực tuân thủ và chủ động thích ứng với những thay đổi của thị trường. Bên cạnh việc duy trì thị phần tại các thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, mở rộng quan hệ thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết Israel là thị trường có tiềm năng đối với cá ngừ Việt Nam. Trong khi hoạt động xuất khẩu tại một số thị trường còn gặp khó khăn do các quy định về nguồn gốc và bảo vệ động vật biển có vú, thị trường Israel ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực.

Theo bà Lê Hằng, yêu cầu về thủ tục tại Israel có những thuận lợi nhất định so với một số thị trường khác. Cùng với đó, nhu cầu nhập khẩu và cơ hội tiếp cận thị trường là những yếu tố góp phần thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang quốc gia Trung Đông này.

Số liệu cho thấy Israel tiếp tục là thị trường đáng chú ý của thủy sản Việt Nam tại Trung Đông. Theo VASEP, năm 2025, xuất khẩu cá ngừ sang Israel giảm tới 40%. Sang năm 2026, xuất khẩu đã phục hồi rõ nét: quý I/2026 kim ngạch đạt gần 10 triệu USD, tăng 33% so với cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Israel đạt khoảng 40 triệu USD, tăng khoảng 30,7%. Hiện Israel là thị trường nhập khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Trung Đông.

Kết quả này cho thấy dư địa phát triển của thị trường Israel đối với thủy sản Việt Nam. Đồng thời, nó đặt ra yêu cầu duy trì chất lượng sản phẩm, đáp ứng các quy định nhập khẩu và xây dựng quan hệ hợp tác ổn định với đối tác sở tại.

VIFTA mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường

Bên cạnh nhu cầu nhập khẩu, VIFTA là một trong những cơ sở quan trọng giúp doanh nghiệp thủy sản Việt Nam nâng cao khả năng tiếp cận thị trường Israel. Đây là hiệp định thương mại tự do đầu tiên Israel ký với một quốc gia Đông Nam Á. Theo cam kết, Israel xóa bỏ ngay 66,3% số dòng thuế đối với hàng hóa Việt Nam khi hiệp định có hiệu lực, nâng lên 92,7% vào cuối lộ trình. Israel cũng dành hạn ngạch thuế quan với thuế suất 0% cho một số mặt hàng của Việt Nam, trong đó có cá ngừ.

Theo bà Lê Hằng, cơ hội từ VIFTA góp phần mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Việc thực thi hiệp định giúp doanh nghiệp có thêm điều kiện khai thác các ưu đãi thuế quan, qua đó tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm khi xuất khẩu sang Israel.

Tuy nhiên, Israel là thị trường có yêu cầu cao đối với thực phẩm nhập khẩu. Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn của nước sở tại, nhiều tiêu chuẩn mang tính đặc thù. Israel đồng thời áp dụng tiêu chuẩn của EU, Mỹ và kiểm tra khá nghiêm ngặt đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm. Ngày 26/7/2026, Chính phủ Israel cũng đã thông qua đề xuất cấm nhập khẩu các mặt hàng được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Đây là quy định mới doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý. Bởi vậy, việc tận dụng ưu đãi từ hiệp định cần đi cùng khả năng đáp ứng quy định của thị trường và tổ chức hoạt động xuất khẩu phù hợp.

Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP). Ảnh: Quỳnh Trang

Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP). Ảnh: Quỳnh Trang

Thực tế, thủy sản Việt Nam đã có chỗ đứng tại Israel. Theo Thương vụ Việt Nam tại Israel, mỗi năm thủy sản Việt Nam chiếm khoảng 12-13% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Israel từ các thị trường trên thế giới. Nhu cầu đối với thủy sản đông lạnh và sản phẩm chế biến, đặc biệt là thủy sản đóng hộp, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam phát huy thế mạnh ở các mặt hàng như cá ngừ, cá tra và tôm.

Bên cạnh ưu đãi thuế quan, việc tháo gỡ vướng mắc về yêu cầu kỹ thuật cũng tạo thuận lợi cho xuất khẩu. Sau quá trình vận động của Thương vụ Việt Nam tại Israel, ngày 1/3/2026, phía Israel đã gửi công thư tới cơ quan chức năng Việt Nam, chấp thuận tên khoa học của cá diêu hồng theo đề xuất của Việt Nam. Theo đó, tên khoa học được ghi rõ trên chứng thư xuất khẩu đối với từng lô hàng. Kết quả này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho xuất khẩu mặt hàng này sang Israel.

Bà Lê Hằng nhận định, để khai thác hiệu quả cơ hội tại Israel, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu nhu cầu của đối tác, lựa chọn sản phẩm phù hợp và bảo đảm tuân thủ quy định nhập khẩu. Việc minh bạch chuỗi cung ứng, tăng cường truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng từ nguyên liệu đến thành phẩm cũng có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng duy trì đơn hàng.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng quan hệ lâu dài với nhà nhập khẩu, theo dõi diễn biến thị trường và linh hoạt trong tổ chức vận chuyển, bảo quản hàng hóa. Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cũng giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro, nâng cao khả năng ứng phó trước những thay đổi về chính sách và nhu cầu tại các thị trường.

Với kết quả tăng trưởng tích cực trong nửa đầu năm 2026 và cơ hội từ VIFTA, Israel tiếp tục là thị trường có triển vọng đối với thủy sản Việt Nam tại Trung Đông. Để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp cần kết hợp khai thác ưu đãi thuế quan với nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhập khẩu và phát triển quan hệ thương mại bền vững.

Lê An

Tin khác