Tận dụng ‘làn sóng lớn’ để doanh nghiệp vươn xa chuỗi giá trị toàn cầu
Việt Nam đứng trước cơ hội lớn tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ trở thành hiện thực nếu doanh nghiệp triển khai đủ nhanh, đủ chuẩn.
Hai hướng tiếp cận song song “go global” và “come to local”
Từ kinh nghiệm nhiều năm làm việc tại Nhật Bản, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Văn Hội - nhà sáng lập doanh nghiệp tư vấn đầu tư và mua bán – sáp nhập (M&A) Việt Nam – Nhật Bản, cho rằng, quá trình hội nhập hiện nay có thể khái quát qua hai hướng tiếp cận song song. Đó là “go global” hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế, và “come to local” thu hút doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, mở rộng sản xuất tại Việt Nam.

Năm 2026, Hà Nội đặt mục tiêu có khoảng 1.040 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Ảnh: VGP/TL
Theo ông Hội, Việt Nam đang đứng trước một “cửa sổ cơ hội” hiếm có để tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, cơ hội chỉ thực sự được nắm bắt nếu Việt Nam triển khai nhanh, đồng thời chuẩn hóa hạ tầng, công nghệ và đặc biệt là nguồn nhân lực theo đúng “đơn đặt hàng” của các tập đoàn đa quốc gia.
Từ thực tiễn hoạt động, trung bình mỗi năm doanh nghiệp của ông Hội hỗ trợ khoảng 12 - 15 nhà đầu tư nước ngoài đầu tư mới vào Việt Nam, đồng thời thực hiện 3 - 5 thương vụ M&A liên quan đến nhà máy, nhà xưởng hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
“Khi nhà đầu tư đã nhìn thấy cơ hội phù hợp, họ ra quyết định rất nhanh. Có trường hợp buổi sáng đi khảo sát, buổi chiều đã chốt phương án đầu tư”, ông Hội chia sẻ, đồng thời cảnh báo, cơ hội sẽ nhanh chóng trôi qua nếu Việt Nam không kịp thời chuẩn bị và triển khai.
Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt, Việt Nam không chỉ cạnh tranh với Thái Lan hay Indonesia, mà còn với Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc, những quốc gia có nền công nghiệp phát triển sớm, tốc độ triển khai nhanh, nguồn lực tài chính mạnh và nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ chính phủ.
Ở chiều ngược lại, trong hoạt động “go global”, ông Hội cho biết chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài thời gian gần đây đã có nhiều chuyển động tích cực. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam quy mô lớn, có tiềm lực tài chính và dư địa tăng trưởng đang tìm kiếm cơ hội đầu tư, mua lại doanh nghiệp tại Nhật Bản.
Bối cảnh tại Nhật Bản hiện nay cũng mở ra những cơ hội hiếm có. Khoảng 95% doanh nghiệp Nhật là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu là doanh nghiệp gia đình; trong đó, hơn 750.000 doanh nghiệp đang không có người kế nhiệm. Trong nhiều trường hợp, chỉ với 500.000 triệu USD đến 1 triệu USD, nhà đầu tư đã có thể mua lại một doanh nghiệp đang hoạt động ổn định.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất với doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường Nhật Bản chính là sự khác biệt văn hóa kinh doanh. Doanh nghiệp Nhật đặc biệt coi trọng quá trình xây dựng quan hệ, có thể kéo dài từ một đến hai năm, trong khi doanh nghiệp Việt Nam thường chú trọng hiệu quả và tốc độ. Nếu không hiểu và thích nghi, nhiều cơ hội có thể bị bỏ lỡ.
Ba trụ cột hạ tầng, công nghệ, nhân lực
Ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch VCCI cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam chỉ có thể gắn kết hiệu quả với chuỗi sản xuất toàn cầu khi việc triển khai được thực hiện đồng bộ theo chương trình hành động cụ thể. Trong đó, hạ tầng được xác định là yếu tố tiên quyết.
Thời gian qua, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và TP. Hà Nội, hạ tầng khu công nghiệp hỗ trợ đã được đầu tư đồng bộ, đáp ứng đầy đủ các điều kiện kỹ thuật và dịch vụ. Nhiều tập đoàn quốc tế khi khảo sát đã bày tỏ sự bất ngờ trước mô hình phát triển toàn diện, kết hợp công nghiệp, đô thị, dịch vụ, từ sản xuất, logistics đến y tế, giáo dục và nhà ở cho chuyên gia.
Theo các chuyên gia, khái niệm hạ tầng công nghiệp hiện nay đã thay đổi căn bản. Không còn là những nhà xưởng mái tôn một tầng, hạ tầng hiện đại đòi hỏi các nhà máy được thiết kế đồng bộ, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với sản xuất công nghệ cao.
Song hành với hạ tầng là công nghệ. Nếu doanh nghiệp chỉ đầu tư công nghệ lạc hậu hoặc chắp vá, sẽ rất khó cạnh tranh trong các chuỗi sản xuất toàn cầu đã vận hành hàng trăm năm. Do đó, bài toán vốn, cơ chế tài chính và vai trò của các quỹ đầu tư, định chế tài chính trở thành yếu tố then chốt.
Đặc biệt, nguồn nhân lực được xác định là “điểm nghẽn” lớn nhất. Hà Nội có lợi thế lớn về lao động, song cần các chương trình đào tạo bài bản để hình thành lực lượng đủ năng lực vận hành dây chuyền hiện đại, làm việc trong môi trường tự động hóa cao, robot và hệ thống thông minh.
Liên quan đến vẫn đề trên, Nhà giáo Ưu tú, TS. Phạm Xuân Khánh - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ Cao Hà Nội thông tin, nhà trường đang đẩy mạnh đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, mở mới các ngành như công nghệ bán dẫn, kỹ thuật thang máy và sắp tới là UAV để đáp ứng trực tiếp nhu cầu của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Cùng với đó, Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (Hansiba) đã chủ động phối hợp với các đối tác Nhật Bản hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận các chứng chỉ sản xuất toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực hàng không – vũ trụ. Các chuyên gia Nhật không chỉ tư vấn hoàn thiện quy trình, mà còn ủy thác cho phép sử dụng chứng chỉ trong giai đoạn đầu theo phương thức “vừa làm, vừa hoàn thiện”.
Đáng chú ý, một công ty liên doanh tư vấn Việt Nam – Nhật Bản đã được thành lập, Chủ tịch HĐQT là người Nhật Bản, hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp Việt Nam trong chuyển giao công nghệ, chuẩn hóa quy trình và nâng cao năng lực quản trị.
Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực mới cũng đang được xúc tiến như đào tạo lái xe cho thị trường Nhật Bản, ứng dụng drone trong cứu hộ, khảo sát địa chất, quản lý rừng, hay các dự án công nghệ sinh học, tế bào gốc,... những lĩnh vực Nhật Bản có nhu cầu lớn nhưng chi phí lao động cao, trong khi Việt Nam có lợi thế về nhân lực và chi phí.
Mới đây, UBND TP. Hà Nội đã ban hành kế hoạch triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ năm 2026, nhằm cụ thể hóa các mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035. Trọng tâm của kế hoạch là thúc đẩy phát triển công nghiệp theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu; tăng cường liên kết sản xuất trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trên phạm vi cả nước.
Thành phố đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, gia tăng cả về số lượng và chất lượng doanh nghiệp, ưu tiên phát triển tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội và các khu công nghiệp, khu công nghệ cao đã hoàn thiện hạ tầng.
Theo kế hoạch, đến hết năm 2026, Hà Nội phấn đấu có khoảng 1.040 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; trong đó, từ 200 - 500 lượt doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ, thụ hưởng các chính sách ưu đãi của thành phố.
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV đã thông qua Nghị quyết thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô. Nhiều chuyên gia ví những dự án này như các “tàu sân bay” tạo lực đẩy cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, nếu tận dụng tốt cơ hội, doanh nghiệp Việt Nam có thể mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, cơ hội chỉ dành cho những doanh nghiệp chuẩn bị đủ nhanh, đủ chuẩn và đủ quyết tâm.
Khi hạ tầng được nâng cấp, công nghệ được đầu tư, nhân lực được đào tạo bài bản và quy chuẩn sản xuất được đáp ứng, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua vai trò gia công, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu.



