Vùng Arabica mới, vai trò ngày càng lớn
EU hiện là thị trường tiêu thụ cà phê lớn của Việt Nam, với khoảng 40% tổng lượng cà phê xuất khẩu vào thị trường này. Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) vì thế đang đặt ra yêu cầu mới về dữ liệu vùng trồng, đất đai và truy xuất nguồn gốc.
Trong bối cảnh đó, Tây Bắc, đặc biệt là Sơn La, nổi lên như một vùng sản xuất Arabica lớn của cả nước. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Sơn La, diện tích cà phê toàn tỉnh đạt gần 40.000 ha và vẫn tiếp tục mở rộng. Tại Điện Biên, riêng diện tích cà phê trồng mới trong năm 2026 đã đạt hơn 10.000 ha.

Sơn La, nổi lên như một vùng sản xuất Arabica lớn của cả nước. Ảnh: Hải Tiến
Sự mở rộng này mang lại cơ hội cải thiện thu nhập, sinh kế cho nhiều hộ nông dân, trong đó có đông đồng bào dân tộc. Tuy nhiên, tốc độ tăng diện tích cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát tốt hơn vùng nguyên liệu và phương thức sản xuất.
Theo ông Nguyễn Mạnh Sơn, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, khác với Tây Nguyên - nơi tập trung hơn 90% diện tích cà phê cả nước và nhiều vùng trồng đã tương đối ổn định - phần lớn diện tích cà phê Tây Bắc mới hình thành trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2023 khi giá cà phê xuất khẩu tăng mạnh.
Điều này khiến phương thức canh tác tại Tây Bắc còn khác biệt đáng kể. Nhiều vùng vẫn sản xuất theo hướng truyền thống, phụ thuộc nước mưa; địa hình dốc cũng làm tăng nguy cơ xói mòn, thoái hóa đất.
Trong khi đó, Sơn La đã xuất hiện những mô hình chuyển đổi theo hướng bền vững, như trồng xen cây ăn quả, cây che bóng, sử dụng phân hữu cơ và đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm. Đây là nền tảng để vùng cà phê mới không chỉ tăng về diện tích mà còn nâng chất lượng sản phẩm.
Từ truy xuất nguồn gốc đến nâng giá trị
Với EUDR, một trong những yêu cầu trước mắt là hoàn thiện dữ liệu vùng trồng gắn với từng hộ nông dân, xác định ranh giới đất và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ truy xuất.
Ông Đỗ Thành Duy, Giám đốc Công ty Tân Cao Nguyên, cho rằng cà phê Sơn La có lợi thế nhất định khi phần lớn Arabica được sơ chế ướt, nông dân thường bán quả tươi ngay tại vườn, qua đó hạn chế nguy cơ cà phê bị phơi, lưu trữ và trộn lẫn qua nhiều khâu.
Tuy nhiên, ranh giới giữa đất lâm nghiệp và đất sản xuất, cũng như quyền sử dụng đất, vẫn cần được làm rõ. Theo ông Duy, việc xây dựng bản đồ vùng trồng, xác định rõ ranh giới đất và chuẩn hóa dữ liệu có ý nghĩa quyết định đối với khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường EU.
Nhưng truy xuất nguồn gốc mới chỉ là điều kiện cần. Theo TS. Nguyễn Thế Mạnh, chuyên gia Tổ chức CARE Việt Nam, Sơn La hiện chưa có nghiên cứu tổng thể về nhiệt độ, điều kiện sinh thái, đất, thổ nhưỡng và đặc điểm từng vùng để xác định chính xác khu vực phù hợp với cà phê Arabica chất lượng cao.
“Không phải khu vực nào của Sơn La cũng có điều kiện giống nhau và đều phù hợp để sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao”, ông Mạnh lưu ý.

Chuyên giam doanh nghiệp, người sản xuất chia sẻ tại một sự kiện mới đây do Mạng lưới cà phê bền vững tổ chức. Ảnh: FRT
Từ thực tế sản xuất, ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX Cà phê Bích Thao Sơn La, cũng cho rằng không thể sao chép máy móc cách làm của Tây Nguyên. Arabica Sơn La có giống, điều kiện khí hậu, đất đai và chu kỳ sinh trưởng khác biệt, do đó kỹ thuật tưới, chăm sóc và tạo tán phải phù hợp với địa phương.
Theo ông Thao, Sơn La hiện có tỷ lệ cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản còn thấp, trong khi đây mới là hướng giúp nâng giá trị hạt cà phê và giảm phụ thuộc vào biến động giá. “Giá cà phê hiện nay cao nhưng người sản xuất cũng phải chuẩn bị cho giai đoạn giá giảm”, ông nói.
Ở góc độ thị trường, ông Nguyễn Cảnh Tâm, đại diện TMT Consulting, cho rằng quy mô khoảng 40.000 ha của Sơn La chưa phải quá lớn nếu đặt trong tương quan với diện tích Arabica trên thế giới. Vấn đề quan trọng hơn là kiểm soát vùng trồng, chất lượng sản xuất và rủi ro của nông hộ, thay vì chỉ nhìn vào tốc độ mở rộng diện tích.
Cùng với đó, cần đa dạng hóa sinh kế bằng cây ăn quả, cây che bóng, mô hình nông lâm kết hợp và các hoạt động sản xuất khác để giảm phụ thuộc vào giá cà phê, đồng thời bảo vệ đất và hệ sinh thái.
Như vậy, với Sơn La, câu chuyện của vùng cà phê Arabica không còn chỉ là mở rộng diện tích. Từ dữ liệu vùng trồng, điều kiện sinh thái đến kỹ thuật canh tác và chất lượng hạt, các yếu tố này cần được kết nối để chuyển lợi thế về vùng nguyên liệu thành giá trị cao hơn. Đây cũng là bước chuyển từ “tăng diện tích” sang “tăng giá trị” của cà phê Tây Bắc.


