
Thu hoạch sầu riêng tại ĐBSCL. Ảnh: Phong Linh
Những con số biết nói
Theo Báo cáo kinh tế thường niên vùng ĐBSCL 2025, giai đoạn 2023 - 2025, xuất nhập khẩu Việt Nam duy trì mức tăng tích cực, với tổng kim ngạch hàng hóa tăng trên 15%/năm; xuất khẩu năm 2025 ước đạt 475 tỉ USD.
Trong đó, thủy sản, rau quả và gạo tiếp tục là ba trụ cột của ĐBSCL, đóng góp 5 - 6% tổng kim ngạch cả nước. Cú hích xuất khẩu chính ngạch đã mở ra thời kỳ tăng trưởng mạnh cho các vùng chuyên canh sầu riêng, nhất là Đồng Tháp mới sau sáp nhập với Tiền Giang. Năm 2024, diện tích sầu riêng tại Tiền Giang đạt 16,4 nghìn ha, sản lượng 462,6 nghìn tấn, tăng hơn 80% so với năm 2021. Tại khu vực Đồng Tháp cũ, diện tích cho trái tăng 5,5 lần, sản lượng tăng hơn 9 lần.
Tuy nhiên, diện tích sầu riêng ở ĐBSCL vẫn tiếp tục mở rộng, làm gia tăng nguy cơ vượt tầm kiểm soát kỹ thuật.
Thạc sĩ Nguyễn Phước Tuyên - nguyên Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đồng Tháp - cho rằng, không nên chỉ nhìn vào các con số tăng trưởng mà cần nhìn thẳng vào rào cản chất lượng. Sầu riêng Việt Nam hiện vẫn đối mặt yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt hàm lượng Cadmium, trong khi Thái Lan duy trì xuất khẩu 17.000 - 20.000 tấn/ngày sang Trung Quốc với giá cao, ổn định.
Khóa chặt điểm nghẽn
Theo Thạc sĩ Nguyễn Phước Tuyên, khó loại bỏ hoàn toàn kim loại nặng ra khỏi đất trong ngắn hạn, nhưng có thể “khóa chặt”, làm bất hoạt tính di động để rễ cây không hấp thụ. Để xử lý bài toán Cadmium, nhà vườn cần áp dụng đồng bộ 3 nhóm giải pháp cốt lõi.
Thứ nhất, sử dụng than sinh học (Biochar) và chất hữu cơ giàu mùn. Thứ hai, bón vôi kết hợp phân hữu cơ hoai mục. Thứ ba, triển khai chiến lược "3 không", tức là không để dư lượng kim loại nặng và hóa chất vượt ngưỡng; không để sâu bệnh bùng phát do lạm dụng hóa chất (ưu tiên giải pháp sinh học, minh bạch nhật ký canh tác); không sản xuất manh mún, nhỏ lẻ mà phải bắt buộc liên kết chuỗi bền vững.
Mấu chốt về năng lực quản trị cho ngành hàng sầu riêng, Thạc sĩ cho rằng, người nông dân không thể bị bỏ lại đơn độc nơi "tiền tuyến" thương mại mà buộc phải xây dựng lại chuỗi liên kết "4 nhà" một cách thực chất hơn.
Trong đó, Nhà nước là điểm tựa chiến lược, với việc quy hoạch vùng trồng phù hợp với điều kiện sinh thái, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm các rào cản kỹ thuật từ nước ngoài và chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu để tránh phụ thuộc vào một đầu ra duy nhất.
Nhà khoa học là bệ đỡ công nghệ khi cần tập trung nghiên cứu và chuyển giao nhanh các giải pháp sinh học thay thế hóa chất với chi phí phù hợp cho nông dân. Đồng thời, phải đầu tư mạnh vào công nghệ bảo quản và chế biến sâu sau thu hoạch.
Nhà doanh nghiệp là cầu nối thị trường. Doanh nghiệp cần từ bỏ tư duy "buôn chuyến", đầu tư bài bản vào công nghệ chế biến, kho lạnh và hệ thống bảo quản; phải sẵn sàng chia sẻ rủi ro với người sản xuất thay vì đẩy toàn bộ áp lực về phía nông dân.
Nhà nông là chủ thể của sự chuyển đổi. Khi có được "bệ đỡ" từ ba nhà còn lại, người nông dân mới đủ điều kiện và niềm tin để thay đổi tư duy sản xuất, tuân thủ quy trình canh tác sạch và tham gia liên kết chuỗi để nâng cao sức cạnh tranh.
"Bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đã thay đổi luật chơi. Thị trường quốc tế không còn ưu tiên quốc gia sản xuất nhiều nhất, mà chọn quốc gia kiểm soát chất lượng an toàn nhất" - ông Tuyên nói thêm.

