Xúc Tiến Doanh Nghiệp | Trang tin điện tử Xúc Tiến Doanh Nghiệp
Trang thông tin điện tử tổng hợp

Tin mới Tin mới

Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Mục tiêu tăng trưởng GDP 2027 trên 10%: Khơi thông dòng vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư

Mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% năm 2027 đòi hỏi huy động đa dạng nguồn vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư và khơi thông các động lực tăng trưởng mới.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) về triển vọng tăng trưởng, khả năng huy động nguồn lực và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.

Khai thác tiềm năng, tạo động lực tăng trưởng mới

- Chính phủ vừa trình Quốc hội mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, theo ông, mục tiêu này có khả thi không? Những điều kiện then chốt nào cần được bảo đảm để hiện thực hóa mục tiêu?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027 là khá cao, nhưng chúng ta có cơ sở để kiên định với mục tiêu này bởi khả năng huy động nguồn lực của nền kinh tế đang ngày càng được cải thiện.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân).

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân).

Đặc biệt, hàng loạt nghị quyết được ban hành đang tạo tiền đề cho một làn sóng đầu tư, kinh doanh và xuất nhập khẩu mới. Đáng chú ý, theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 10 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu tiên Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, cho thấy quy mô và năng lực hội nhập của nền kinh tế tiếp tục được mở rộng. Đây là con số mà cách đây 10 năm có lẽ không nhiều người nghĩ Việt Nam có thể đạt được. Điều đó cho thấy nền kinh tế đang có những động lực tăng trưởng mạnh, thậm chí còn những tiềm năng chưa được đánh giá đầy đủ.

Theo tôi, quyết tâm đặt mục tiêu tăng trưởng cao phản ánh yêu cầu khai thác tốt hơn tiềm năng của nền kinh tế. Chúng ta cần tiếp tục phát huy các nguồn lực hiện có, tạo thêm dư địa cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thương mại quốc tế.

Để đạt mức tăng trưởng 10%, yêu cầu về vốn đầu tư sẽ rất lớn. Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, cần đặc biệt quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2015-2024 nằm trong khoảng 5,8-6,42; giai đoạn 2021-2025 là 6,43. Trong khi đó, mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là đưa hệ số này xuống 4,5-4,8. Đây là yêu cầu quan trọng để mỗi đồng vốn đầu tư tạo ra nhiều giá trị hơn, qua đó giảm áp lực huy động vốn cho tăng trưởng.

Bên cạnh vốn, thị trường cũng phải đủ sức hấp thụ sản phẩm. Đầu tư cần gắn với nhu cầu thị trường, năng lực sản xuất và khả năng tiêu thụ hàng hóa để dòng chảy giá trị trong nền kinh tế vận hành thông suốt. Một điều kiện quan trọng khác là phát huy đồng bộ các nguồn lực về công nghệ, lao động, đất đai, quan hệ đối ngoại, quan hệ trong nước và sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp. Khi các yếu tố này được kết nối và khai thác hiệu quả, nền kinh tế sẽ có thêm động lực để duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

- Vậy đâu là những giải pháp cần ưu tiên để tạo dư địa tăng trưởng và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có, thưa ông?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, trước hết, chúng ta đã xác định đúng mục tiêu, vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện. Cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp phát triển, hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực và đặc biệt là nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng vốn.

Cùng với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, việc kéo giảm hệ số ICOR xuống còn 4,5-4,8 cho thấy yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng. Nguồn lực của chúng ta không phải không có, quan trọng là phải được đưa vào đúng lĩnh vực, đúng thời điểm và tạo ra giá trị thực chất.

Theo đó, cần ưu tiên nguồn vốn cho những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn. Các dự án trọng điểm, đại dự án về giao thông, năng lượng, logistics và hạ tầng kết nối cần được đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào khai thác. Khi các công trình hoàn thành, không chỉ tạo thêm năng lực hạ tầng mà còn mở ra không gian phát triển mới, giảm chi phí cho doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc tổ chức thực hiện cũng cần đổi mới theo hướng quyết liệt, linh hoạt hơn. Những dự án đã đủ điều kiện cần được tập trung nguồn lực triển khai, rút ngắn thời gian thực hiện nhưng vẫn bảo đảm chất lượng và hiệu quả. Qua đó, vốn đầu tư được đưa nhanh hơn vào nền kinh tế, tạo thêm sức bật cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đa dạng hóa nguồn vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư

- Một số chuyên gia tính toán, để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao, Việt Nam cần huy động khoảng 280-300 tỷ USD vốn đầu tư mỗi năm và tăng khoảng 14% hằng năm. Theo ông, khả năng huy động nguồn vốn quy mô lớn này ra sao?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Việt Nam cần duy trì quy mô vốn đầu tư toàn xã hội ở mức khoảng 40% GDP và đóng góp 40-42% vào tăng trưởng. Với mục tiêu và tỷ trọng vốn này, nhu cầu huy động mỗi năm khoảng 280-300 tỷ USD, đồng thời tăng khoảng 14% hằng năm. Nếu nhìn vào cơ cấu vốn đầu tư những năm gần đây, có thể thấy một phần đáng kể nguồn lực đã nằm trong khả năng huy động của chúng ta.

Cụ thể, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể đạt khoảng 30-35 tỷ USD mỗi năm; đầu tư tư nhân khoảng 90 tỷ USD; đầu tư công khoảng 60 tỷ USD. Như vậy, tổng cộng chúng ta có khoảng 180-185 tỷ USD vốn đầu tư từ các nguồn này. Nếu lấy mức nhu cầu khoảng 280 tỷ USD, phần vốn còn thiếu khoảng 95-100 tỷ USD. Đây là khoảng vốn cần được bổ sung thông qua nhiều kênh huy động khác nhau.

Trước hết là nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, cần tăng cường huy động thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ, nhất là để phục vụ các dự án hạ tầng, đại dự án và công trình trọng điểm. Nếu huy động được khoảng 10 tỷ USD từ kênh này sẽ đóng góp đáng kể cho nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Ngoài ra, có thể khai thác nguồn vốn vay thương mại trên thị trường quốc tế, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đồng thời phát huy vai trò của thị trường chứng khoán và các trung tâm tài chính quốc tế đang được hình thành, đưa vào vận hành.

Tôi cho rằng, cần nhanh chóng đưa các trung tâm tài chính quốc tế vào hoạt động thực chất. Việt Nam cũng đã có những bước tiến trong quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán, từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi. Đây là tín hiệu tích cực, cần tận dụng để thu hút thêm dòng vốn đầu tư.

Bên cạnh đó, có thể đa dạng hóa nguồn vay từ các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) và các tổ chức tài chính khác. Việc tiếp cận những nguồn vốn này cần gắn với các dự án có hiệu quả và khả năng lan tỏa cao.

Như vậy, hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng để đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn của nền kinh tế. Chúng ta phải phát triển đồng bộ các kênh huy động, từ thị trường chứng khoán, trái phiếu đến vốn quốc tế và các định chế tài chính. Đây cũng là hướng đi cần thiết để bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển.

- Trong bối cảnh nhu cầu vốn rất lớn, theo ông, cần làm gì để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từng bước đưa hệ số ICOR về mức 4-4,5?

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, trước hết cần nâng cao chất lượng lập dự toán, bảo đảm tính khoa học, sát thực tế, tiết kiệm và tối ưu hóa nguồn vốn. Dự toán phải dựa trên hiệu quả thực chất, tính đúng, tính đủ các chi phí và tận dụng khả năng ứng dụng công nghệ để rút ngắn thời gian, giảm chi phí triển khai.

Hoạt động sản xuất tại Công ty Cổ phần Thiết bị Điện MBT (Hà Nội).

Hoạt động sản xuất tại Công ty Cổ phần Thiết bị Điện MBT (Hà Nội).

Cùng với đó, cần đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và thực hiện dự án. Các dự án phải được đánh giá trên cơ sở điều kiện thực tế, xác định rõ dự án nào đã đủ điều kiện thì triển khai ngay, dự án nào có thể hoàn thành sớm thì tập trung nguồn lực để hoàn thành. Việc rút ngắn thời gian thực hiện không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp vốn sớm được đưa vào khai thác, tạo ra giá trị.

Đặc biệt, cần tiếp tục đổi mới tư duy trong sử dụng vốn đầu tư công. Mỗi đồng vốn đều phải được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, có khả năng tạo ra tác động lan tỏa. Muốn vậy, phải đẩy nhanh giải ngân, rút ngắn các khâu từ thẩm định, phê duyệt đến đấu thầu và triển khai dự án. Ứng dụng khoa học, công nghệ và phương thức quản lý mới để giảm thời gian xử lý thủ tục, nâng cao hiệu quả thực hiện.

Một giải pháp quan trọng khác là phân bổ vốn có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những lĩnh vực có khả năng tạo sức lan tỏa lớn. Những ngành có vai trò chiến lược đối với nền kinh tế cần được tập trung nguồn lực, nhất là công nghệ, công nghiệp và hạ tầng kinh tế trọng yếu.

Cuối cùng, cần đặc biệt coi trọng đổi mới công nghệ và thiết bị. Công nghệ mới có thể giúp giảm tiêu hao vốn, năng lượng, nhiên liệu và chi phí vận hành. Các định mức kinh tế - kỹ thuật cũng cần được rà soát, cập nhật phù hợp với điều kiện phát triển hiện nay. Chẳng hạn, khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), tốc độ và năng suất xử lý công việc có thể thay đổi rất lớn, vì vậy định mức cũng cần được điều chỉnh tương ứng.

Tôi cho rằng, nếu làm tốt từ khâu lập dự toán, phân bổ vốn, tổ chức thực hiện đến đổi mới công nghệ thì hiệu quả sử dụng vốn sẽ được cải thiện đáng kể. Đây cũng là cơ sở quan trọng để từng bước đưa hệ số ICOR về mức 4-4,5, qua đó giảm áp lực huy động vốn mà vẫn tạo được tốc độ tăng trưởng cao.

- Xin cảm ơn ông!

Kinh tế 10 tháng năm 2026 ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, sản xuất công nghiệp và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài duy trì đà tăng tích cực. Từ kết quả trên và cùng với những chính sách giảm chi phí cho doanh nghiệp, kinh tế Việt Nam đang nỗ lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026 và hướng đến mục tiêu tăng trưởng GDP 2027 từ 10% trở lên, gắn với giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Nguyễn Hạnh (thực hiện)

Tin khác