Yêu cầu tái cấu trúc chuỗi lúa gạo năm 2026
Năm 2026, ngành lúa gạo đối diện sức ép kép khi giá lúa giảm, chi phí đầu vào tăng và thị trường xuất khẩu thiếu ổn định đặt ra yêu cầu tái cấu trúc chuỗi lúa gạo.
Giá lúa thấp, lợi nhuận nông dân giảm
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Tạ Văn Bông, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Nông nghiệp Tân Bình (Đồng Tháp), cho biết các giao dịch giữa hợp tác xã với thương lái hiện chủ yếu mới dừng ở mức ký hợp đồng ghi nhớ, chưa chốt giá cụ thể. Giá lúa chỉ được xác định tại thời điểm thu hoạch, khi thị trường có tín hiệu rõ ràng hơn.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo nhìn chung đi ngang, giao dịch chậm dần khi thị trường bước vào giai đoạn cao điểm cận tết Nguyên đán. Ảnh minh họa
Theo ông Bông, vụ Đông Xuân, vụ sản xuất quan trọng nhất trong năm thường bắt đầu thu hoạch sau tết Nguyên đán, cao điểm rơi vào khoảng tháng Hai âm lịch. Đây cũng là thời điểm thương lái tiến hành chốt giá mua. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, mặt bằng giá lúa năm nay thấp hơn khá rõ. Nếu vụ Đông Xuân năm ngoái giá lúa đạt khoảng 6.600 đồng/kg thì hiện nay phổ biến chỉ quanh mức 6.000 đồng/kg, thậm chí có nơi còn thấp hơn.
Trong bối cảnh chi phí vật tư đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công liên tục tăng, mức giá này khiến lợi nhuận của nông dân bị thu hẹp đáng kể. “Lãi vẫn có nhưng rất ít, bà con nông dân năm nay thực sự vất vả”, ông Bông chia sẻ.
Đáng chú ý, nhiều hộ nông dân, trong đó có gia đình ông Bông, không có kho chứa nên buộc phải bán lúa tươi ngay sau thu hoạch, dù giá chưa đạt kỳ vọng. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu gặp khó, nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường lớn suy giảm càng khiến đầu ra của lúa gạo thêm bấp bênh.
Để giảm rủi ro, HTX Tân Bình đã liên kết với doanh nghiệp nhằm ổn định đầu ra cho xã viên. Tuy nhiên, theo ông Bông, các liên kết này vẫn phụ thuộc lớn vào diễn biến thị trường. Giá thu mua theo hợp đồng liên kết thường chỉ cao hơn thị trường khoảng 100 đồng/kg, mức chênh lệch chưa đủ lớn để tạo đột phá về thu nhập.
Song song đó, hợp tác xã đang từng bước triển khai mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, lúa giảm phát thải. Dù vậy, mức giá thu mua hiện nay chỉ cao hơn khoảng 100 đồng/kg so với lúa sản xuất theo phương thức truyền thống, chưa thực sự tương xứng với công sức và chi phí mà nông dân bỏ ra.
“Việc chuyển đổi chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hướng tới đầu ra ổn định, chứ chưa thể kỳ vọng nhiều vào chênh lệch giá”, ông Bông chia sẻ và cho hay trong bối cảnh thị trường nhiều biến động, nông dân vẫn là đối tượng chịu áp lực lớn nhất và rất cần các giải pháp căn cơ hơn để ổn định sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.
Ở góc độ doanh nghiệp, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Châu Minh Hải, Giám đốc Công ty TNHH HK, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực lúa gạo tại khu vực Gò Công (tỉnh Đồng Tháp), cho rằng thị trường lúa gạo thời gian qua vẫn diễn biến nhiều bất ổn. Năm 2025, có thời điểm giá lúa xuống rất thấp; dù nhờ đặc thù vùng nguyên liệu, giá thu mua tại Gò Công nhỉnh hơn một số địa phương khác nhưng nhìn chung mặt bằng giá vẫn yếu.
Bước sang đầu năm 2026, giá lúa có dấu hiệu nhích nhẹ. Tuy nhiên, sự cải thiện này không mang nhiều ý nghĩa đối với nông dân bởi phần lớn diện tích đã được thu hoạch trước đó. Nguồn lúa còn lại phải sau tết Nguyên đán, thậm chí sang tháng 3–4 dương lịch mới bước vào thu hoạch rộ. Khi nguồn cung tăng mạnh, nguy cơ giá lúa tiếp tục chịu áp lực giảm là hiện hữu.
“Giá tăng lúc nông dân đã bán hết lúa thì lợi ích chủ yếu rơi vào khâu thu mua, tích trữ. Nông dân hầu như không được hưởng lợi”, ông Hải nhận định. Trong khi đó, chi phí đầu vào như phân bón, vật tư nông nghiệp vẫn ở mức cao, khiến lợi nhuận từ trồng lúa ngày càng mỏng.
Trước thực tế này, doanh nghiệp của ông Hải kiên trì xây dựng mô hình liên kết chuỗi với nông dân, tập trung vào quy trình kỹ thuật nhằm giảm chi phí sản xuất, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, theo ông, việc thay đổi tập quán sản xuất của nông dân là quá trình dài và không hề dễ dàng, nhất là khi lợi ích kinh tế mang lại chưa thực sự rõ rệt.
Theo ông Hải, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở khâu sản xuất mà ở “đầu ra”. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp thu mua lớn hiếm khi trực tiếp làm việc với nông dân mà thông qua trung gian là thương lái địa phương. Khi thị trường biến động, giá thu mua vẫn chủ yếu dựa vào cung – cầu tức thời.
Áp lực xuất khẩu và yêu cầu tái cấu trúc ngành hàng
Nhìn ở tầm vĩ mô, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nhận định năm 2026, xuất khẩu gạo được dự báo gặp nhiều thách thức do giá hạ và cạnh tranh gay gắt từ Ấn Độ cùng một số quốc gia khác. Các thị trường truyền thống như Philippines, Indonesia cũng có dấu hiệu giảm nhập khẩu.

Năm 2026 cả nước gieo sạ khoảng 7,09 triệu ha lúa, sản lượng ước đạt 43,552 triệu tấn. Ảnh: N.H
Hiện nay, Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, song việc áp dụng chính sách cấp phép nhập khẩu theo từng giai đoạn khiến doanh nghiệp khó ký kết hợp đồng ổn định. Điều này tác động trực tiếp đến giá lúa vụ Đông Xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long, khiến giá khó tăng và tiêu thụ chậm. Theo VFA, đây là vấn đề cần sớm có giải pháp tháo gỡ để tránh gây khó khăn cho nông dân khi toàn vùng bước vào thu hoạch cao điểm.
Bên cạnh đó, VFA cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của các hợp đồng cấp Chính phủ trong việc ổn định đầu ra cho gạo Việt Nam. Những năm qua, Việt Nam đã ký kết một số thỏa thuận xuất khẩu quan trọng với Bangladesh và đạt được các cam kết mới từ các chuyến làm việc cấp cao. Định hướng năm 2026 là tiếp tục xoay trục xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh gạo thơm, gạo chất lượng cao lên khoảng 70% nhằm phục vụ các thị trường có sức mua và giá bán tốt hơn.
Một vấn đề cấp bách khác là khâu vốn thu mua lúa Đông Xuân. Theo các doanh nghiệp trong ngành, không chỉ nông dân mà nhiều doanh nghiệp cũng thiếu vốn thu mua lúa hàng hóa. Để tháo gỡ, cần có cơ chế tài chính phù hợp để kích cầu tiêu thụ, đồng thời hệ thống ngân hàng cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị lúa gạo từ sản xuất, thu mua đến xuất khẩu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 cả nước gieo sạ khoảng 7,09 triệu ha lúa, sản lượng ước đạt 43,552 triệu tấn. Riêng vụ Đông Xuân 2025 – 2026 đạt khoảng 20,335 triệu tấn. Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục là vùng sản xuất trọng điểm với sản lượng lúa hàng hóa tương đương hơn 7,7 triệu tấn gạo dành cho xuất khẩu, ưu tiên lúa thơm, chất lượng cao.
Trong bối cảnh biến động, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị tăng cường xuất khẩu trong các tháng cao điểm thu hoạch, đồng thời đẩy mạnh thu mua, liên kết chuỗi, kiểm soát chặt các hành vi ép giá, đầu cơ nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nông dân và doanh nghiệp.
Tại họp báo thường kỳ cuối tháng 1/2026, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý xuất khẩu gạo, đẩy mạnh đàm phán mở rộng thị trường và tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết. Định hướng xuất khẩu gạo năm 2026 sẽ tiếp tục nghiêng mạnh về gạo thơm, gạo chất lượng cao, phản ánh sự chuyển dịch chiến lược của ngành lúa gạo Việt Nam từ số lượng sang giá trị.
Trong bối cảnh sức ép gia tăng, năm 2026 được xem là phép thử lớn đối với khả năng thích ứng của ngành lúa gạo Việt Nam. Việc tái cấu trúc chuỗi giá trị, nâng cao vai trò liên kết và tạo dựng đầu ra bền vững sẽ là chìa khóa để giảm thiểu rủi ro, bảo vệ sinh kế cho nông dân và nâng cao vị thế gạo Việt trên thị trường quốc tế.
Trước việc một số thị trường chủ lực thu hẹp lượng nhập khẩu, xuất khẩu gạo năm 2026 được dự báo tiếp tục biến động, rất cần sự chủ động tìm kiếm thị trường cũng như hướng đến việc xuất khẩu gạo ở phân khúc cao cấp.



