
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển công nghiệp văn hóa trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, với mục tiêu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế và chính sách, nhiều chuyên gia cho rằng cần hình thành những doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt thị trường, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và đưa tài sản trí tuệ Việt Nam vươn ra thế giới.
Doanh nghiệp đầu đàn quyết định sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa
Theo ông Đinh Bá Thành - Chủ tịch sáng lập DatVietVAC (nhà sản xuất loạt show Anh trai say hi, Em xinh say hi), chính sách có thể mở đường cho sự phát triển của một ngành kinh tế, nhưng để ngành đó đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu cần những doanh nghiệp tiên phong đóng vai trò dẫn dắt.
"Nếu không có kỳ lân công nghiệp văn hóa, sẽ không có công nghiệp văn hóa cạnh tranh toàn cầu", ông Thành nhấn mạnh.
Theo ông, nhiều năm qua Việt Nam đã chứng minh được năng lực sản xuất các chương trình giải trí có sức lan tỏa lớn, thu hút hàng triệu khán giả và tạo hiệu ứng mạnh trên các nền tảng số. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở việc gia công format hoặc khai thác doanh thu một lần từ chương trình thì giá trị tạo ra vẫn rất hữu hạn.

Ông cho rằng điểm khác biệt giữa một ngành giải trí và một ngành công nghiệp văn hóa nằm ở khả năng tạo lập tài sản trí tuệ.
"Điều quyết định sức cạnh tranh dài hạn không phải số lượng chương trình được sản xuất, mà là khả năng sở hữu tài sản trí tuệ (IP), phát triển cộng đồng người hâm mộ và mở rộng tài sản trí tuệ sang nhiều lĩnh vực khác nhau", ông nói.
Theo ông Thành, khi một chương trình, một nhân vật hay một câu chuyện trở thành IP, giá trị của nó không dừng lại ở một mùa phát sóng mà có thể tiếp tục được khai thác trong điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thời trang, du lịch, thương mại, hàng tiêu dùng và nhiều lĩnh vực khác. Chính khả năng mở rộng chuỗi giá trị này mới tạo nên sức cạnh tranh bền vững cho công nghiệp văn hóa.
Đây cũng là hướng đi mà nhiều quốc gia đã lựa chọn để biến văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển kinh tế.
Dẫn kinh nghiệm từ Hàn Quốc, ông Thành cho rằng thành công của K-Culture không chỉ đến từ BTS, điện ảnh hay các chương trình truyền hình nổi tiếng mà còn được tạo dựng bởi những doanh nghiệp có khả năng sáng tạo IP, quản trị nghệ sĩ, xây dựng cộng đồng người hâm mộ và mở rộng chuỗi giá trị sang âm nhạc, điện ảnh, thời trang, du lịch, tiêu dùng cùng nhiều lĩnh vực khác.
"Những doanh nghiệp như HYBE tập trung đầu tư vào tài sản trí tuệ và hệ sinh thái người hâm mộ thay vì hạ tầng vật chất. Chính điều đó đã góp phần hình thành các 'kỳ lân công nghiệp văn hóa', đưa K-Culture trở thành nền tảng của sức mạnh mềm Hàn Quốc", ông Thành phân tích.
Theo ông Thành, Việt Nam đang có nhiều lợi thế như quy mô dân số lớn, tỷ lệ sử dụng internet cao và thị trường nội địa giàu tiềm năng. Tuy nhiên, những lợi thế này sẽ rất khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh nếu thiếu các doanh nghiệp đủ khả năng tổ chức toàn bộ chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa như đã phân tích.
Hoàn thiện cơ chế để hình thành những "kỳ lân công nghiệp văn hóa"
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, điều quan trọng là phải hoàn thiện hệ sinh thái chính sách, từ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế tài chính đến hợp tác công - tư.
"Khi môi trường pháp lý đủ thuận lợi, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn vào sáng tạo và thương mại hóa các sản phẩm văn hóa", ông Sơn nhấn mạnh.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và kết nối nguồn lực, còn doanh nghiệp sẽ là lực lượng trực tiếp đưa tài sản văn hóa ra thị trường. Vì vậy, việc hình thành những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt sẽ là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Đinh Bá Thành cho rằng Việt Nam cần xây dựng cơ chế phát triển đủ mạnh để hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt ngành, tương tự những chính sách dành cho các lĩnh vực kinh tế ưu tiên.

Theo ông Thành, cần xây dựng bộ tiêu chí tuyển chọn các doanh nghiệp công nghiệp văn hóa có tiềm năng trở thành thương hiệu quốc gia, dựa trên ba nhóm năng lực cốt lõi gồm sáng tạo và sở hữu IP nguyên bản; ứng dụng công nghệ, phát triển tài sản số; thương mại hóa nội dung và mở rộng hợp tác quốc tế.
"Việt Nam cần xây dựng cơ chế phát triển đủ mạnh để hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt ngành, tương tự những chính sách dành cho các lĩnh vực kinh tế ưu tiên", ông Đinh Bá Thành kiến nghị.
Ông Thành cho rằng, để công nghiệp văn hóa có năng lực cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam cần hình thành những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt thị trường. Đây sẽ là lực lượng đưa tài sản trí tuệ Việt Nam ra quốc tế và chuyển hóa các nguồn lực văn hóa thành động lực tăng trưởng bền vững.

