A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

“Đòn bẩy tài chính” cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long

Sau hơn 2 năm triển khai Đề án phát triển bền vững một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhiều tín hiệu tích cực về diện tích triển khai vượt xa mục tiêu giai đoạn đầu. Trong bức tranh đó, tín dụng ngân hàng đang nổi lên như một “đòn bẩy tài chính” quan trọng, giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi sản xuất lúa gạo theo hướng chất lượng cao và giảm phát thải.

Bước chuyển trong tư duy sản xuất lúa gạo

Theo Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau hơn 2 năm triển khai, diện tích canh tác lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã đạt khoảng 354.839ha, tương đương gần 200% mục tiêu của giai đoạn đầu.

Điều đáng chú ý, đề án không chỉ mở rộng diện tích, mà còn tạo ra thay đổi căn bản trong tư duy sản xuất của nông dân. Thay vì chạy theo sản lượng như trước đây, nhiều địa phương đã chuyển sang mô hình sản xuất giảm chi phí, nâng cao giá trị và giảm phát thải.

Các quy trình canh tác mới như quản lý nước tưới thông minh, giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý hay thu gom rơm rạ sau thu hoạch đang được áp dụng rộng rãi. Kết quả từ các mô hình thí điểm cho thấy lượng giống gieo sạ giảm khoảng 45%, phân bón giảm khoảng 30% và số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giảm đáng kể.

Những thay đổi này giúp chi phí đầu vào giảm khoảng 40%, năng suất tăng khoảng 12% và lợi nhuận của người trồng lúa tăng thêm trung bình khoảng 6 triệu đồng/ha/vụ. Đồng thời, lượng phát thải khí nhà kính cũng giảm từ 3–4 tấn CO₂/ha/vụ.

Không chỉ thay đổi kỹ thuật sản xuất, đề án còn thúc đẩy việc tổ chức lại chuỗi giá trị lúa gạo. Hơn 1.100 hợp tác xã và tổ hợp tác đã tham gia chương trình, cùng với hơn 200 doanh nghiệp liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Khoảng 600 hợp tác xã đã ký hợp đồng liên kết với doanh nghiệp, đảm nhận sản xuất trên 60–70% diện tích của đề án.

Những con số này cho thấy đề án đang góp phần định hình lại cấu trúc ngành lúa gạo theo hướng liên kết chuỗi – yếu tố vốn được xem là “điểm nghẽn” của nông nghiệp Việt Nam trong nhiều năm qua.

lua-gao.jpg

Ảnh minh họa

Tín dụng ngân hàng – “đòn bẩy tài chính” của chuỗi giá trị lúa gạo

Thực tế cho thấy, nếu kỹ thuật là “chìa khóa” của sản xuất xanh thì tín dụng chính là “đòn bẩy” giúp mở rộng quy mô và duy trì tính bền vững của mô hình.

Để vận hành mô hình sản xuất mới, nông dân và hợp tác xã cần nguồn vốn đáng kể cho các khâu như cơ giới hóa, cải tạo đồng ruộng, áp dụng công nghệ sản xuất hay xây dựng hệ thống thu gom rơm rạ.

Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng đang trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy đề án. Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL do Agribank làm ngân hàng chủ lực được triển khai với sự tham gia của 7 ngân hàng thương mại. Tổng quy mô tín dụng thí điểm đến năm 2025 khoảng 16.300 tỷ đồng. Nguồn vốn này hướng tới hỗ trợ toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo, từ nông dân, hợp tác xã đến doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Tại một số địa phương, tín dụng đã bước đầu phát huy hiệu quả. Đến cuối năm 2025, tại tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tây Ninh, tổng số tiền cam kết cho vay theo chương trình đạt hơn 142 tỷ đồng, trong đó dư nợ đạt khoảng 34 tỷ đồng, với lãi suất ưu đãi từ 4% đến 5,5%/năm. Còn TP. Cần Thơ đã giải ngân được 1,435 tỷ đồng cho 1 hợp tác xã và 14 khách hàng cá nhân.

Trong khi đó, tại khu vực tỉnh An Giang và tỉnh Cà Mau, doanh số giải ngân lũy kế theo chương trình đã đạt khoảng 1.050 tỷ đồng, với sự tham gia của nhiều ngân hàng thương mại như Vietcombank, MBBank, HDBank và Agribank.

Những khoản tín dụng này giúp các hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư máy gặt đập liên hợp, hệ thống sấy, kho bảo quản và công nghệ chế biến – những yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu.

Tín dụng ngân hàng đang dần trở thành nguồn lực tài chính quan trọng, hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất lúa chất lượng cao.

Đặc biệt, khi lãi suất cho vay được thiết kế ở mức ưu đãi, các hợp tác xã và doanh nghiệp có điều kiện đầu tư máy gặt đập liên hợp, hệ thống sấy, kho bảo quản hoặc công nghệ chế biến sâu. Đây là những yếu tố giúp nâng cao giá trị gia tăng của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Một điểm sáng của đề án là sự quan tâm của các tổ chức quốc tế đối với mô hình sản xuất lúa giảm phát thải của Việt Nam. Ngân hàng Thế giới đã đánh giá cao tính tiên phong của chương trình và cam kết hỗ trợ huy động nguồn vốn tài chính xanh cho đề án. Đây được xem là cơ hội quan trọng để Việt Nam tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phục vụ chuyển đổi nông nghiệp bền vững.

Nếu được triển khai hiệu quả, nguồn vốn này không chỉ giúp mở rộng diện tích lúa chất lượng cao mà còn hỗ trợ đầu tư hạ tầng, công nghệ và hệ thống đo đạc – báo cáo phát thải, một yêu cầu quan trọng để tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai.

Tuy nhiên, theo TS Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13, dù tín dụng đã bắt đầu phát huy vai trò, nhưng thực tế triển khai cho thấy quy mô giải ngân vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu vốn của đề án.

Một trong những nguyên nhân là năng lực tài chính và quản trị của nhiều hợp tác xã còn hạn chế, khiến việc đáp ứng các điều kiện vay vốn ngân hàng gặp khó khăn. Không ít hợp tác xã thiếu tài sản đảm bảo hoặc chưa xây dựng được phương án sản xuất – kinh doanh đủ thuyết phục.

Bên cạnh đó, hạ tầng sản xuất tại nhiều địa phương chưa đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thủy lợi nội đồng, giao thông phục vụ cơ giới hóa và dịch vụ thu gom rơm rạ. Điều này khiến hiệu quả đầu tư chưa ổn định và làm tăng rủi ro tín dụng.

Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân tuy đã hình thành nhưng vẫn còn lỏng lẻo. Số lượng doanh nghiệp tham gia chưa nhiều và quy mô liên kết chưa tương xứng với tiềm năng của vùng ĐBSCL.

Chính sách tín dụng cần “đi trước một bước”

Để tín dụng ngân hàng thực sự trở thành động lực thúc đẩy Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, TS. Phạm Minh Tú cho rằng cần một cách tiếp cận chính sách mang tính hệ thống hơn. Trên cơ sở đó, TS. Phạm Minh Tú đề xuất một số giải pháp:

Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế tín dụng ưu đãi riêng cho sản xuất lúa phát thải thấp. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể thiết kế các gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi dành riêng cho các dự án tham gia đề án. Đồng thời, cần xem xét cơ chế tái cấp vốn hoặc hỗ trợ lãi suất để khuyến khích các ngân hàng thương mại mở rộng cho vay.

Thứ hai, phát triển mô hình tín dụng chuỗi giá trị. Thay vì cho vay riêng lẻ từng hộ nông dân, ngân hàng có thể cấp tín dụng cho toàn bộ chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân. Khi doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm, rủi ro tín dụng sẽ giảm đáng kể và khả năng tiếp cận vốn của nông dân cũng được cải thiện.

Thứ ba, tăng cường bảo lãnh tín dụng cho hợp tác xã. Các quỹ bảo lãnh tín dụng hoặc quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã cần được phát huy vai trò trong việc hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận vốn vay ngân hàng. Đây là giải pháp quan trọng để tháo gỡ rào cản về tài sản đảm bảo.

Thứ tư, gắn tín dụng với chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc sẽ giúp ngân hàng đánh giá chính xác hơn hiệu quả của các dự án sản xuất lúa chất lượng cao, từ đó giảm rủi ro tín dụng và mở rộng khả năng cho vay.

Thứ năm, kết hợp tín dụng với thị trường carbon. Trong tương lai, khi cơ chế thị trường carbon được vận hành, nông dân và doanh nghiệp tham gia mô hình lúa phát thải thấp có thể tạo ra nguồn thu từ tín chỉ carbon. Nếu được thiết kế phù hợp, nguồn thu này có thể trở thành một “tài sản tài chính” mới, giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn của người sản xuất.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan