Nguồn cung dồi dào, giá chịu áp lực
Báo cáo tháng 4/2026 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho thấy, bức tranh thị trường gạo thế giới tiếp tục nghiêng về phía dư cung. Dù sản lượng toàn cầu niên vụ 2025/26 chỉ tăng nhẹ, nhu cầu tiêu thụ lại suy yếu tại nhiều khu vực như Trung Đông và Đông Á, khiến tồn kho gia tăng và giá bị kìm hãm.
Nguồn cung dồi dào trong bối cảnh nhu cầu tăng chậm khiến thị trường khó có động lực tăng giá mạnh. Ảnh minh họa
Thương mại gạo toàn cầu cũng giảm nhẹ khi cạnh tranh gia tăng, đặc biệt từ các quốc gia có giá thấp như Ấn Độ và Việt Nam. Trong đó, Ấn Độ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu xuất khẩu, tạo áp lực lớn lên mặt bằng giá chung.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), thị trường gạo toàn cầu niên vụ 2025/26 được dự báo duy trì trạng thái ổn định với nguồn cung dồi dào. Sản lượng có thể đạt kỷ lục 563,3 triệu tấn nhờ thời tiết thuận lợi, năng suất cao và diện tích gieo trồng ổn định tại châu Á. Tổng cung ước đạt 773,6 triệu tấn, vượt nhu cầu dự báo khoảng 555,5 triệu tấn, trong khi thương mại toàn cầu giảm nhẹ còn 60 triệu tấn do nhiều quốc gia chủ động nguồn cung nội địa. Đáng chú ý, tồn kho gạo toàn cầu tăng lên 219,3 triệu tấn, đưa tỷ lệ tồn kho/sử dụng lên khoảng 39%, góp phần củng cố an ninh lương thực và giảm rủi ro trước các cú sốc thị trường.
Trong nước, diễn biến giá thị trường lúa gạo ngày 22/4 ghi nhận tín hiệu khởi sắc nhẹ ở một số chủng loại gạo nguyên liệu. Tuy nhiên, giao dịch tại các địa phương vẫn khá trầm lắng, đặc biệt khi nguồn cung từ vụ Đông Xuân đang vào cao điểm thu hoạch, khiến giá lúa nhìn chung chững lại.
Đáng chú ý, mặt bằng giá nội địa có sự phân hóa rõ rệt. Trong khi nhóm gạo trắng phổ thông như IR50404 tăng nhẹ, thì các dòng gạo thơm, cao cấp lại giảm sâu. Điển hình, gạo ST24/25 từ mức đỉnh 14.500 đồng/kg đã giảm còn khoảng 12.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam duy trì ở nhiều mức khác nhau, song xu hướng chung là giảm so với đầu năm. Trong tháng 3, nhiều phân khúc ghi nhận mức giảm từ 7-10%. Gạo thơm xuất sang Philippines giảm còn 390-410 USD/tấn, trong khi gạo cao cấp như ST25 cũng giảm đáng kể tại các thị trường cao cấp.
Áp lực chi phí, rủi ro thị trường và bài toán tái cấu trúc
Dù thị trường hiện tại khá trầm lắng, nhiều yếu tố mới đang tạo ra những biến động khó lường. Theo Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), giá gạo có thể phục hồi trong thời gian tới do chi phí đầu vào tăng mạnh, đặc biệt là phân bón. Các bất ổn địa chính trị tại Trung Đông đã đẩy giá urê tăng 50 - 70%, kéo theo nguy cơ tăng chi phí sản xuất toàn cầu tạo áp lực tăng giá lên chuỗi cung ứng lúa gạo.
Ở góc độ thị trường, xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống. Theo số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), 3 tháng đầu năm 2026, Philippines vẫn nhập của Việt Nam hơn 711.260 tấn, chiếm 55,86% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam và tăng 30% so với cùng kỳ. Trong khi đó, với thị trường Trung Quốc nhập khẩu gạo của Việt Nam tăng 143,7% so với cùng kỳ, đạt 178.165 tấn. Điều này giúp duy trì đầu ra, nhưng đồng thời tiềm ẩn rủi ro khi các thị trường này thay đổi chính sách.
Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VFA cho hay, điểm sáng quan trọng nhất của ngành lúa gạo Việt Nam đó là cơ hội mở rộng sang thị trường châu Phi khi một số quốc gia bày tỏ nhu cầu nhập khẩu gạo trực tiếp từ Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng giao hàng cho quý II/2026, cho thấy kỳ vọng thị trường có thể cải thiện trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, theo đánh giá của doanh nghiệp, nếu không có thay đổi đáng kể về thị trường, năm 2026 vẫn sẽ là giai đoạn khó khăn. Xu hướng chuyển sang sản phẩm gạo đóng gói, xây dựng thương hiệu và tăng giá trị gia tăng đang được xem là hướng đi tất yếu để tiếp cận các thị trường khó tính như EU, Anh, Australia hay Canada.
Ở góc độ sản xuất, rủi ro từ biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức lớn. Dự báo El Nino có thể xuất hiện từ giữa năm 2026, làm gia tăng nguy cơ hạn hán và xâm nhập mặn tại Nam Bộ. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) vừa có Công văn số 1427/TTTV-TTBVTV gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, khuyến cáo giảm diện tích ở những vùng bất lợi, không chạy theo sản lượng mà ưu tiên hiệu quả và bền vững.
Việc điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, sử dụng giống ngắn ngày, chịu hạn mặn và tối ưu chi phí đầu vào đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, định hướng giảm gieo sạ, áp dụng các quy trình canh tác tiết kiệm cũng được thúc đẩy nhằm thích ứng với bối cảnh mới.
Trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu dư thừa, giá cả biến động và chi phí sản xuất gia tăng, ngành gạo Việt Nam năm 2026 sẽ phải đối mặt với nhiều “cơn sóng ngầm”. Dù vẫn có những điểm sáng về thị trường và cơ hội tái cấu trúc, bài toán nâng cao giá trị, đa dạng hóa thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ quyết định khả năng “vượt sóng” của ngành lúa gạo trong thời gian tới.
Tại phiên họp sáng 21/4, giải trình trước Quốc hội về định hướng phát triển bền vững giai đoạn mới, liên quan đến an ninh lương thực, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, với khoảng 3,57 triệu ha đất trồng lúa vào năm 2030, Việt Nam vẫn có thể bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và duy trì xuất khẩu. Hiện năng suất lúa đạt khoảng 6,2 tấn/ha, đứng thứ hai thế giới (sau Ấn Độ khoảng 7 tấn/ha). Dù dư địa tăng năng suất không còn nhiều, Việt Nam vẫn có khả năng giữ kim ngạch xuất khẩu gạo ở mức khoảng 5 tỷ USD mỗi năm.

